Bartolomé Esteban Murillo

 

Tác giả: Tom Hoopes
Chuyển ngữ: Phêrô Phạm Văn Trung
Từ: aleteia.org (20.1.2021)

WHĐ (21.1.2021)Năm Thánh Giuse này là thời điểm tuyệt vời để chúng ta hiểu sâu hơn về vai trò của Thánh Giuse trong lịch sử cứu độ.

Trong năm Thánh Giuse này, người Công giáo đang khám phá lại vai trò cốt yếu của Thánh Giuse trong lịch sử cứu độ.

Chúng ta đã quen với việc nói về tầm quan trọng của Mẹ Chúa Giêsu. Chúng ta giải thích điều đó vào mỗi Chủ nhật trong Kinh Tin Kính: “Bởi phép Ðức Chúa Thánh Thần, Người đã nhập thể trong lòng Trinh Nữ Maria, và đã làm người.”

Nhưng chúng ta có xu hướng nghĩ về Thánh Giuse như thể ngài chỉ là một người chăm sóc, và không liên quan mật thiết đến sự cứu rỗi của chúng ta. ĐTC Phanxicô cố gắng sửa chữa điều đó trong tông thư về Thánh Giuse, nói rằng: “Sự vĩ đại của Thánh Giuse ở chỗ ngài là bạn trăm năm của Đức Maria và là cha của Chúa Giêsu.” (Tông Thư Patris Corde, số 1, Một người cha yêu thương, của Đức Thánh Cha Phanxicô nhân kỷ niệm 150 năm tôn vinh Thánh Giuse là bổn mạng Hội Thánh).

Thực tế, vai trò làm cha của Thánh Giuse đối với Chúa Giêsu rất quan trọng.

  1. Vai trò của Đức Maria trong lịch sử cứu độ là vượt trội hơn tất cả, nhưng vai trò làm cha của Thánh Giuse lại hoàn thành những lời hứa của Thiên Chúa theo một cách mà thiên chức làm mẹ của Đức Maria không làm được.

Hãy lưu ý thứ tự của các chi tiết mà Tin Mừng đưa ra khi kể câu chuyện Truyền tin:

Thánh Luca viết: “Thiên Chúa sai sứ thần Gáprien đến một thành miền Galilê, gọi là Nadarét, gặp một trinh nữ đã thành hôn với một người tên là Giuse, thuộc dòng dõi vua Đa-vít. Trinh nữ ấy tên là Ma-ri-a. Sứ thần vào nhà trinh nữ và nói: "Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ân sủng, Đức Chúa ở cùng bà”. (1: 26-28).

Trước tiên, chúng ta nghe nói Giuse là ai đã, và chỉ sau đó chúng ta mới nghe đến tên của Mẹ Maria và biết rằng Mẹ là “Đấng đầy ân sủng.”

Đó là bởi vì, để ứng nghiệm những lời tiên tri về Đấng Mêsia – Quân Vương đến từ dòng dõi Đavít, Chúa Giêsu phải sinh ra trong nhà Đavít. Điều đó có nghĩa là Ngài phải là con trai của Giuse cũng giống như Ngài phải là con trai của Đức Trinh Nữ Maria. Và Ngài, chắc chắn giống  như Augustus Caesar, đang trị vì vào thời điểm đó, là con trai thực sự của Julius Caesar, người đã nhận nuôi Augustus.

  1. Thánh Giuse là một trong những người đầu tiên biết rằng Chúa Giêsu cần phải thực sự là Thiên Chúa thì mới có thể cứu độ chúng ta.

Ngày nay, các học giả được báo chí trích dẫn nhiều nhất có xu hướng nhấn mạnh quá mức về nhân tính của Chúa Giêsu. Họ làm cho Ngài trở nên hoàn toàn là sản phẩm của thời đại và không gian của Ngài: Ngài làm những việc Ngài đã làm và rao giảng về ngày tận thế bởi vì Ngài là một người Do Thái ở Palestine, nơi những điều đó được nhấn mạnh.

Nhưng nếu Chúa Giêsu chỉ đơn giản là một con người, thì lễ Giáng sinh mất toàn bộ trọng tâm của nó - Thiên Chúa đến làm cho chúng ta dự phần vào bản tính Thiên Chúa.

Trớ trêu thay, lời tuyên bố rõ ràng nhất rằng Chúa Giêsu sẽ đến với tư cách là Thiên Chúa không có trong trình thuật của Tin Mừng Luca về những lời sứ thần Gabriel nói với Mẹ Maria, mà có trong trình thuật của Tin Mừng Mátthêu về những lời sứ thần Gabriel nói với Thánh Giuse: “Này ông Giuse, con cháu Đavít, đừng ngại đón bà Maria vợ ông về, vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần.” (1: 20).

Thánh Giuse nghe thấy trước toàn bộ kế hoạch cứu độ: Chúa Giêsu “Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ”  (Mt 1: 21)  và ngài sẽ là “Emmanuel, nghĩa là Thiên Chúa ở cùng chúng ta”. (Mt 1: 23)  

Chúa Giêsu sẽ lại tiết lộ danh tính thiêng liêng của mình cho Thánh Giuse và Mẹ Maria khi họ lạc mất Ngài rồi lại tìm thấy Ngài trong Đền thờ và nói: “Tại sao cha mẹ lại tìm con? Cha mẹ không biết rằng con phải ở trong nhà của Cha con sao?” (Lc 2: 49).

  1. Nhưng để cứu độ chúng ta, Chúa Giêsu cũng phải là một con người thực sự, học sự vâng lời từ cha Ngài, là Thánh Giuse.

Thay vì nhấn mạnh đến nhân tính của Chúa Giêsu, người ta cũng dễ mắc phải sai lầm ngược lại về Chúa Giêsu và quá nhấn mạnh thần tính của Ngài. Chúng ta có nguy cơ coi Ngài không là một “con người” chút nào, mà là một ngôi vị Thần linh giả làm một con người.

Như Công đồng Vatican II đã nêu trong Gaudium et Spes: “Con Thiên Chúa đã làm việc với đôi tay con người, suy nghĩ bằng trí óc con người, hành động theo một ý chí con người, yêu mến bằng quả tim con người. Sinh làm con Đức Trinh nữ Maria, Người đã thật sự trở nên một người giữa chúng ta, giống chúng ta về mọi phương diện, ngoại trừ tội lỗi” (Gaudium et Spes - Vui mừng và Hy vọng, 22,2).

Nếu Ngài có trí óc con người, thì chúng ta có một mầu nhiệm lớn ở đây: Người Con thần linh phải học hỏi từ một người cha phàm nhân. Như thư Do Thái viết: “Dầu là Con Thiên Chúa, Người đã phải trải qua nhiều đau khổ mới học được thế nào là vâng phục.” (5:8).

Và Ngài đã làm được: “Trong những năm sống ẩn dật ở Nadarét, Chúa Giêsu đã học ở trường học của thánh Giuse để làm theo ý của Chúa Cha,” ĐTC Phanxicô giải thích, (Tông Thư Patris Corde, số 3, Một người cha vâng phục).

Sách Giáo lý còn viết rõ hơn khi nói rằng, “Việc Đức Giêsu mỗi ngày vâng phục thánh Giuse và Mẹ Maria báo trước việc vâng phục vào ngày Thứ Năm Tuần Thánh: “Xin đừng theo ý con” (Lc 22,42). Sự vâng phục của Đức Kitô trong cuộc sống ẩn dật thường ngày đã khởi đầu công trình tái lập những gì mà Ađam đã phá đổ vì bất tuân phục (Rm 5, l9).” (GLCG, số 532).

Vì vậy, chúng ta hãy tạ ơn Chúa vì vai trò độc nhất của Mẹ Maria trong lịch sử cứu độ - và của cả người bạn trăm năm của Mẹ, là Thánh Giuse.

NB: Người dịch dẫn nguồn và biên tập lại các câu trích trong bản văn gốc vốn không có nguồn...

Vinh Sơn Liêm Trần Văn Hòa

Tình yêu, một khái niệm rất gần gũi với bất kỳ ai, dù là người lớn hay trẻ nhỏ, dù ở đâu hay bất cứ thời đại nào, cho dù người ta có ý thức, có hiểu biết hay không về tình yêu. Đó cũng là hạn từ được nói đến nhiều trong đời sống con người. Tuy nhiên, tình yêu cũng là một khái niệm không dễ nhận thức một cách chính xác. Quả vậy, không phải cứ nói nhiều về tình yêu là dấu chỉ chắc chắn của một ai đó biết yêu và yêu nhiều. Cũng không hẳn người nói nhiều về tình yêu là người có tình yêu chân thật, vì yêu nhiều hay yêu ít, tình yêu chân thật hay giả dối, nhiều khi không tỉ lệ với những lời nói hoa mỹ về tình yêu. Để nhận biết một tình yêu chân thật hay giả dối, yêu nhiều hay yêu ít thì cách chắc chắn cần phải đối chiếu với đời sống và hành động của người đó. Một tình yêu chân thật là một tình yêu được thể hiện qua việc làm cụ thể, như thánh Gioan nói: Chúng ta đừng yêu thương nơi đầu môi chót lưỡi, nhưng phải yêu thương cách chân thật và bằng việc làm” (1Ga 3,18; x. Gc 2,15-16). Cha Tổ Phụ Biển Đức Thuận nói: “Muốn biết chúng tôi có kính mến Chúa hay không, hãy xét coi chúng tôi có thương yêu anh em không. Nếu chúng ta có, ấy là dấu chúng ta có lòng kính mến Chúa. Vì sự kính mến Chúa có lẽ lầm được, còn sự thương yêu anh em thì không lm được. Sự chúng tôi kính mến Chúa không biết có chắc hay không, còn sự yêu thương anh em là dấu chắc chắn chúng tôi có lòng kính mến Chúa” (DN 112).

Như thế, tình yêu đích thực, nhất định phải được tỏ lộ qua hành động, do đó, càng hành động trong thầm lặng thì tình yêu càng được hiện thực và biểu lộ. Chỉ có tình yêu mới là động lực giúp người ta dám dấn thân và hy sinh, thể hiện qua hành động cụ thể như Chúa Giêsu đã sống và chết cho người mình yêu (x. Ga 15,13). Tình yêu mãnh liệt và chân thật là tình yêu “nói ít làm nhiều”. Một tình yêu như thế không phải dễ dàng gặp thấy trong xã hội hôm nay- một xã hội chủ trương thực dụng và chủ nghĩa cá nhân- nhưng không phải là không có hay không thực hiện được. Chẳng hạn ít nhiều chúng ta cũng nhận thấy nơi các vị thánh đã âm thầm sống cho Chúa và cho người khác như Mẹ Têrêxa Calcutta, thánh Maximiliano M. Kolbe… hay các bậc cha mẹ luôn âm thầm hy sinh cho con cái mình được lớn lên… Một cách đặc biệt, những đặc tính của một tình yêu chân thật và mãnh liệt như thế chúng ta gặp thấy rất rõ nơi Thánh Giuse.

Có thể nói thánh Giuse như là mẫu gương cho chúng ta bắt chước noi theo về một tình yêu thầm lặng. Nơi ngài chúng ta thấy được chân dung rõ nét của một người chỉ sống cho Chúa và cho người khác trong âm thầm lặng lẽ một cách tuyệt đối, đến nỗi nói đến thánh Giuse, ai cũng nghĩ ngay đến sự thầm lặng của ngài. Có thể nói, thầm lặng chính là bản chất con người của thánh Giuse. Nhưng sự âm thầm lặng lẽ của ngài không phải là một sự âm thầm thụ động, bi quan yếm thế, muốn trốn tránh trách nhiệm hay ẩn mình để tận hưởng thú vui cho riêng mình. Nhưng là sự âm thầm ẩn chứa một tình yêu mãnh liệt trong đó, nên mặc dầu không nói ra, tình thầm lặng đó được biểu lộ cách sống động đối với Thiên Chúa cũng như đối với mọi người, qua các biến cố cũng như trong thái độ sống thường ngày.

Vậy trong bài này chúng ta tìm hiểu xem con người thánh Giuse như thế nào? Ngài đã sống tình thầm lặng với Thiên Chúa và với mọi người ra sao? Cũng như trong thái độ sống của ngài qua các biến cố và trong đời sống thường nhật của ngài như thế nào?

  1. Thánh Giuse – con người thầm lặng

Nói đến thánh Giuse người ta thường nghĩ ngay đến một con người âm thầm. Âm thầm trong lời nói, lặng lẽ qua việc làm trong cuộc sống. Âm thầm đến nỗi Kinh Thánh không cho chúng ta thấy ngài nói bất cứ một lời nào, nhưng chỉ là nói về ngài mà thôi. Ngay cả nói về ngài đi nữa thì Kinh Thánh cũng nói rất ít. Ngài giữ im lặng trước những biến cố khó khăn và khó hiểu xảy đến với ngài như việc Đức Mẹ mang thai, biến cố Giáng Sinh.

Hơn nữa, ngài là con cháu vua David, là hôn phu của Đức Maria, nhưng với địa vị cao quí như thế ngài cũng không bày tỏ với ai về đặc ân này. Tất cả những điều đó cho thấy thánh Giuse là một con người thầm lặng, bản chất của ngài là thầm lặng, ngài thích được sống trong sự thầm lặng. Sự thầm lặng của thánh Giuse không chỉ thể hiện qua việc ngài không nói, mà còn thể hiện qua những gì viết về ngài. Quả vậy, là người cộng tác một cách trực tiếp vào chương trình cứu độ của Thiên Chúa với tư cách là cha nuôi của Chúa Giêsu, một chương trình vĩ đại liên quan đến cả Thiên Chúa và vận mạng toàn thể nhân loại như thế thì đáng ra – theo lẽ thường- các sách vở, nhất là các sách Tin Mừng cũng phải nói nhiều về ngài mới đúng. Thế nhưng ngài đã không nói lời nào và các sách Tin Mừng cũng chỉ nói rất ít về ngài, đến nỗi ngài sống ra sao, chết khi nào, ở đâu… đã không được nhắc đến. Có thể nói, những điều được nói, được nhắc đến thánh Giuse trong Tin Mừng là quá ít, hoàn toàn không tương xứng với một con người và địa vị cũng như chỗ đứng quan trọng như thánh Giuse. Thế nhưng tất cả những điều xem ra không bình thường ấy, tất cả những thắc mắc ấy cuối cùng đã phác họa nên một chân dung rõ nét, một hình ảnh trung thực nhất về con người Giuse: Giuse, con người thầm lặng. Một con người thầm lặng tuyệt đối có một không hai trên đời này.

Tân Ước để lại cho chúng ta bức chân dung về thánh Giuse như một người âm thầm phục vụ Chúa Giêsu và Đức Maria, chứ không cho thấy ngài nói bất cứ một lời nào. Có thể nói thánh Giuse là biểu tượng cho sự thầm lặng. Một sự thầm lặng không chỉ xảy ra nhất thời hay trong những biến cố nhất định nào đó, nhưng đúng hơn, cả cuộc đời của ngài là một sự thầm lặng.

Tuy nhiên, sự thầm lặng của thánh Giuse không biến ngài thành một ốc đảo, trái lại chính trong đời sống thầm lặng đó mà tình yêu của ngài lại càng được tỏ lộ với Thiên Chúa và mọi người. Đó là sự thầm lặng đầy ắp tình yêu nội tâm, được thúc đẩy bởi sự tìm kiếm và thực thi thánh ý Thiên Chúa. Vậy tình thầm lặng của ngài đã thể hiện như thế nào đối với Thiên Chúa và mọi người?

  1. Tình thầm lặng của thánh Giuse đối với Thiên Chúa

Để thấy được tình yêu của thánh Giuse đối với Thiên Chúa, tuy thầm lặng nhưng mãnh liệt thế nào, thiết tưởng phải nhìn vào cuộc sống của ngài để thấy ngài đã âm thầm vâng phục và sống theo thánh ý Thiên Chúa một cách tuyệt đối ra sao. Chúng ta biết, điều làm cho thánh Giuse trở nên cao trọng và được gọi là người công chính không phải vì ngài là một trong các tổ phụ được Thiên Chúa kêu gọi đích danh như Abraham và Giacop… hoặc vì ngài đã lãnh đạo dân Chúa và làm những việc vĩ đại như Môsê và Aaron… nhưng là vì ngài đã tuân theo mệnh lệnh của Thiên Chúa một cách âm thầm lặng lẽ. Nói đúng hơn, thánh Giuse trở nên công chính là vì ngài đã kín đáo để cho Thiên Chúa sử dụng như một khí cụ trong chương trình của Người. Phải nói rằng, động lực lớn nhất làm cho thánh Giuse trở nên khí cụ của Thiên Chúa chính là tình yêu. Chỉ có tình yêu mới có khả năng thúc đẩy thánh Giuse trở thành khí cụ trong bàn tay Thiên Chúa. Đó cũng là thứ tình yêu như thánh Phaolô quả quyết: “Tình yêu Đức Kitô thôi thúc tôi” (2Cr 5,14). Chính vì được tình yêu như thế thúc đẩy nên thánh Phaolô đã không sống tinh thần vâng phục Thiên Chúa một cách máy móc hay trong tâm thế của một người thụ động; trái lại ngài thể hiện sự vâng phục Thiên Chúa cách ‘chủ động’ như một nhân vị đầy đủ tự do và trách nhiệm. Do đó, sự vâng phục của thánh Giuse là một sự vâng phục của một người “cộng tác” hay “đối tác” của Thiên Chúa. Quả vậy, trong cuộc đời của thánh Giuse, chúng ta thấy có ba lần Thiên Chúa -qua thiên sứ- truyền lệnh cho ngài trong giấc mơ. Đó là biến cố truyền tin (x. Mt 1,18-25; Lc 2,1-17); biến cố Sứ thần hiện ra báo cho ngài biết phải đưa Hài Nhi và Mẹ Người trốn sang Ai Cập (x. Mt 2,13-18); và lần cuối cùng, cũng trong giấc mộng, sứ thần Chúa truyền cho ngài đưa Hài Nhi và Mẹ Người từ Ai-Cập về Ítraen (x. Mt 2,19-23). Thế nhưng, những gì ngài sống và thực hiện trong tương quan với Đức Mẹ và Chúa Giêsu, nhất là qua những biến cố khó khăn nhất của cuộc sống gia đình Thánh Gia, thánh Giuse luôn chủ động, chịu đựng và kiên nhẫn thi hành phận vụ của ngài trong tư cách là một người cha, một người chồng, đặc biệt trong tư cách là người con thảo hiếu đối với Thiên Chúa. Những điều đó cho thấy rằng thánh Giuse luôn có một tình yêu, một mối tương quan sâu đậm và mãnh liệt với Thiên Chúa như thế nào, để rồi phát xuất từ tình yêu mãnh liệt ấy, ngài đã luôn chủ động thi hành phận vụ của mình trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa, như một người cha và người chồng trong gia đình Thánh Gia tại Nazareth, cũng như trong toàn bộ chương trình cứu độ của Thiên Chúa thực hiện qua Chúa Giêsu.

Tuy nhiên, khi nói về thánh Giuse người ta thường nghĩ về một con người tuân phục mà không nói hay ít khi nói đến ngài như một con người của tình yêu. Sở dĩ như thế là vì người ta thường nhận ra sự vâng phục của ngài theo kiểu ‘hoa lá cành’, mà ít ai nghĩ tới hay khám phá ra được cái tình, cái tâm của thánh Giuse vốn là nguồn mạch, là nguyên nhân của đức tuân phục phát xuất từ tình yêu. Tất cả chỉ vì tình yêu, một tình yêu mãnh liệt nhưng thầm lặng. Cách ngài thể hiện tình yêu của mình với Thiên Chúa và với mọi người, ngay cả đối với những người thân cận nhất là Chúa Giêsu và Mẹ Maria, thì hầu như chúng ta cũng chỉ được thấy qua hành động hơn là lời nói. Nơi thánh Giuse, tất cả chỉ diễn ra bằng hành động, mà hơn nữa hành động trong âm thầm, để chỉ có Thiên Chúa biết đến mà thôi. Chúa Giêsu nói, khi làm phúc “đừng cho tay trái biết việc tay phải làm” (Mt 6,3). Nhưng chính trong cái ‘tình thầm lặng’ này, một ‘cái tình’ như là thuộc về bản chất của con người thánh Giuse, đã làm cho ngài trở nên một con người tuân phục, dễ bảo, nhờ đó mà ngài đã trở nên một khí cụ hoàn hảo để Thiên Chúa dùng vào công trình cứu độ nhân loại.

Như thế phải nói rằng, sự vâng phục mau mắn của thánh Giuse trước các mệnh lệnh của Thiên Chúa chỉ là mặt nổi bên ngoài và bên trên, tất cả chỉ là biểu hiện cho sức mạnh của một tình yêu nội tâm và âm thầm, một động lực mãnh liệt ẩn chứa bên dưới và bên trong sâu thẳm nơi con người của thánh Giuse. Chính tình yêu mãnh liệt nhưng âm thầm ấy -chứ không phải tài năng hay sự khôn ngoan- đã giúp cho thánh nhân trở thành khí cụ của Thiên Chúa, luôn tìm kiếm và vâng nghe thánh ý Người. Cũng trong chiều hướng đó, cụ Nguyễn Du luôn xem trọng tình yêu khi nói: chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài. Thánh Gioan khẳng định Thiên Chúa là tình yêu (x. 1Ga 4,8). Một trong những điều chính yếu để trở nên khí cụ của Thiên Chúa chính là tình yêu, vì: tình yêu đáp trả tình yêu. Và ngược lại, chỉ có tình yêu thúc đẩy mới có thể giúp con người sống và chu toàn thánh ý Thiên Chúa.

Một trong những đặc điểm nữa của tình thầm lặng nhưng mãnh liệt của thánh Giuse đối với Thiên Chúa chính là thái độ sống của ngài. Chúng ta thấy, trước những mầu nhiệm khó hiểu và trong những hoàn cảnh khó khăn, thánh Giuse luôn thao thức một điều là phải làm thế nào để thi hành ý muốn của Thiên Chúa một cách mau mắn nhất. Quả vậy, lý do làm nên thái độ sống của thánh Giuse như thế là vì, ngài xác tín rằng: thứ  nhất, tất cả những sự kiện hay biến cố xảy ra trong cuộc đời của ngài là những mầu nhiệm mà ngài không thể hiểu được. Cho nên, ngài không bao giờ đặt vấn đề tại sao, nhưng chỉ mong tìm hiểu thánh ý Thiên Chúa muốn ngài làm gì và ngài ra sức làm theo hơn là tìm kiếm một sự hiểu biết về các mầu nhiệm của Thiên Chúa, hay suy tư để tìm hiểu thấu đáo về các sự kiện xảy ra cho ngài. Trước những sự kiện khó khăn và khó hiểu như việc truyền tin hay những biến cố khó hiểu như việc Đức Mẹ mang thai bởi phép Chúa Thánh Thần (x. Mt 1,18-25; Lc 2,1-7); rồi những khó khăn trong hoàn cảnh Giáng Sinh (x. Mt. 1,18-25; Lc 2,1-20); hay phải đưa Hài Nhi trốn sang Ai-Cập vào ban đêm (x. Mt 2,13-18), thánh Giuse không bao giờ đặt câu hỏi: tại sao Thiên Chúa lại phải như vậy? Tại sao Thiên Chúa lại thua quyền lực thế gian? Tại sao phải ra đi trong đêm tối? Phải làm gì để sinh sống nơi đất khách quê người? Trái lại, một khi đã hiểu được điều Thiên Chúa muốn thì ngài đã thực hiện một cách mau chóng không chút do dự hay ngại ngùng, cho dẫu không hiểu phía trước là gì, khó khăn ra sao (x. Mt 1,18-25), cho dẫu đó là ban đêm (x. Mt 2,13-15).

Ngay cả Mẹ Maria và Chúa Giêsu là những người đồng hành với ngài, đồng lao cộng khổ với ngài, cũng là những mầu nhiệm mà ngài không thể hiểu hết được, nhưng ngài cũng không bao giờ đặt vấn đề ‘tại sao’. Thánh Giuse đã không thắc mắc, không tra hỏi hay đòi Đức Mẹ phải giải thích lý do mang thai. Trong tất cả những trường hợp ấy, thánh nhân chỉ âm thầm lặng lẽ một mình, vì biết rằng Đức Mẹ có nói, có giải thích thế nào thì ngài cũng chẳng hiểu được. Và cùng với Đức Mẹ, thánh Giuse cũng đã ngạc nhiên trước những lời nói tiên tri đau thương của cụ già Simeon về trẻ Hài Nhi (x. Lc 2,33), nhưng ngài cũng chỉ biết cúi đầu chấp nhận mà không tranh luận hay chất vấn ông Simeon tại sao hay hỏi ông phải làm gì. Hay khi Chúa Giêsu lạc mất trong đền thờ Giêrusalem, theo thánh sử Luca thì thánh Giuse và Đức Mẹ thực sự không hiểu gì về con người của Chúa Giêsu: “Khi thấy con, hai ông bà sửng sốt” (Lc 2,48). Tất cả những biến cố đó ngài đều không đòi hỏi bất cứ một lời giải thích nào từ bất cứ ai, vì có hỏi thì ngài cũng không thể hiểu được, cho nên cũng giống như thái độ của Đức Mẹ là: ghi nhớ và suy niệm trong lòng (x. Lc 2,19.51).

Có thể nói, lý do thánh Giuse sống với Thiên Chúa bằng tình yêu mãnh liệt nhưng thầm lặng thể hiện qua thái độ sống một cách tuyệt đối tuân phục như thế là vì, ngài muốn cho mọi ý định và chương trình của Thiên Chúa được tỏ lộ một cách trung thực nhất. Chúng ta có thể mượn tâm tình của thánh Gioan Tẩy Giả, để diễn tả thái độ khiêm tốn của thánh Giuse trước chương trình cứu độ là công trình của Thiên Chúa: “Ngài phải lớn lên còn tôi phải nhỏ lại” (Ga 3,30).

  1. Sống tình thầm lặng đối với mọi người

Thông thường khi chọn lựa và xếp đặt ai cho một công việc nào đó, người ta phải xem người đó có khả năng và có thể làm được việc đó không. Và công việc càng lớn, càng quan trọng thì người ta càng phải cẩn thận tìm kiếm và chọn lựa những con người có đủ phẩm chất, có đủ tài đức cho công việc đó. Hiểu như thế mới thấy rằng, một khi được Thiên Chúa chọn để làm cha nuôi Chúa Giêsu trong chương trình cứu độ thì ắt hẳn rằng thánh Giuse phải là một người trổi vượt thực sự. Vì việc cứu độ nhân loại không không giống như một công việc trần thế, nhưng là một công trình vĩ đại và quan trọng bậc nhất trong mọi công trình của Thiên Chúa đối với nhân loại. Quả vậy, phụng vụ trong đêm Vọng Phục Sinh cho chúng ta thấy rằng việc tạo dựng thế giới này là một công trình kỳ diệu của Thiên Chúa, nhưng việc tái tạo con người và thế giới này qua công trình cứu độ còn kỳ diệu hơn rất nhiều. Như thế có thể nói, thánh Giuse có một vai trò hết sức quan trọng trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa. Và để cộng tác với Thiên Chúa trong công trình cứu độ này thì thánh Giuse phải có một con tim rất lớn, một tình yêu lớn lao mới có thể đón nhận thánh ý Thiên Chúa và thực hiện những điều Thiên Chúa trao phó cho ngài. Vì chỉ có tình yêu, một tình yêu mãnh liệt mới là điều kiện tiên quyết để có thể chu toàn công việc cộng tác với Thiên Chúa trong công trình cứu độ này trong tư cách là một người cha của Chúa Giêsu. Cũng giống như khi chọn và trao phó Giáo hội cho thánh Phêrô lãnh đạo, Chúa Giêsu cũng chỉ kiểm tra và đòi hỏi một điều duy nhất là tình yêu: “Này anh Simôn, con ông Gioan, anh có mến Thầy hơn các anh em này không?” (Ga 21,15). Sứ mệnh được chọn làm cha của Chúa Giêsu như thế thật là một vinh dự vô cùng lớn lao mà bao nhiêu người thầm mơ ước. Xét theo sự thường, đây là một ân huệ đáng tự hào nhất. Thế nhưng thánh Giuse cũng không vì thế mà khẳng định chỗ đứng của mình với mọi người; trái lại ngài luôn giữ thái độ khiêm tốn và im lặng trước mọi người, vì ngài coi đó như là ân huệ hoàn toàn nhưng không do Thiên Chúa ban tặng, như tâm tình của thánh Phaolô: Tôi có là gì, cũng là nhờ ơn Thiên Chúa” (1Cr 15,10).

Theo cách của người đời, có thể nói thánh Giuse là người có uy tín, ‘có tiếng nói’ và là người có nhiều lý do để được biết đến, để được ca ngợi trước mắt mọi người, nếu không nói là ngài có lý do để khoe khoang và hãnh diện về bản thân mình. Chúng ta biết ngài là một người thuộc dòng tộc vua David (x. Mt 1,20), nghĩa là ngài không phải thuộc về một dòng tộc tầm thường, nhưng được sinh ra trong một dòng dõi vua chúa danh giá trâm anh bậc nhất, dòng dõi được tuyển chọn. Theo Bernard Martelet:Thánh Giuse thực sự thuộc dòng tộc David, ngài là con cháu thực của dòng dõi vua chúa, ngài là người thuộc hàng quí tộc, còn quí tộc hơn nữa do bởi con tim! Ngài hoàn toàn là con vua David và tuyệt đối không làm thoái hoá cho nhà David cha của ngài. Đúng vậy ngài là con cháu David theo hàng dọc, chẳng những do xác thịt mà còn do đức tin, do sự thánh thiện và do sự tận tâm”[1]. Tức là thánh Giuse được sinh ra và lớn lên trong một địa vị cao trọng và với địa vị này ngài có quyền “ăn nói”, có quyền “hãnh diện” chứ không phải sống âm thầm như những người “vô danh tiểu tốt”.

Không những thế, theo Bernard Martelet, trong các biến cố quan trọng cũng như trong sinh hoạt đời thường “Thánh Giuse đã không để các cảm tình của mình lộ ra đối với Đức Mẹ. Đây là một sự kiện thầm kín và không thể giải thích được. Ngay cả việc thầm kín trong những tâm sự của thánh Giuse tỏ bày cho chúng ta. Ngài không nói gì về tình cảm sâu kín của ngài hướng về Chúa Giêsu và Mẹ Maria, ngài cũng không để lộ ra sự gì mà Chúa Giêsu và Mẹ Maria làm cho ngài. Đây là điều ngài biết và đó là điều buộc ngài có bổn phận phải nói, đó là ngài không có chút gì trong việc thụ thai của Con Thiên Chúa. Chỉ mình ngài mới có thể nói về sự lo lắng của ngài trước tình trạng khó xử khi nhìn thấy Hiền Thê của mình có thai”[2].

Như vậy, không những thánh Giuse có một thái độ sống thầm lặng trước mặt Thiên Chúa nhưng còn âm thầm trong tương quan với mọi người, ngay cả với những người mà theo lẽ thường ngài có quyền được ‘ăn nói’. Sở dĩ như vậy là vì, trước mặt người đời ngài luôn chân nhận như thánh Phaolo rằng: tất cả ân huệ mình có, đều được nhận lãnh từ Thiên Chúa, nên chẳng có lý do gì để vênh vang hay lên mặt với người khác (x. 1Cr 4,7). Trái lại, ngài càng thể hiện sự khiêm tốn hơn người khác qua thái độ sống thầm lặng. Từ đó, thánh phụ Biển Đức có lý để quả quyết: “Người cần nhiều, hãy tự hạ vì mình yếu đuối, chứ đừng tự cao vì được thương xót” (TL chương 34). Với Thiên Chúa, thánh Giuse luôn chân nhận mình thuần tuý chỉ là một đầy tớ, một người quản lý các mầu nhiệm của Thiên Chúa. Và do đó, chỉ mong thể hiện sự trung thành với Thiên Chúa qua việc chu toàn bổn phận được giao mà thôi (x. 1Cr 4,1-2). Cho nên, cũng giống như người đầy tớ trung thành, sau tất cả, chỉ tâm niệm một điều là mình chỉ làm những gì thuộc bổn phận của một đầy tớ phải làm mà thôi (x. Lc 17,10).

  1. Tình thầm lặng của thánh Giuse trong cuộc sống thường nhật

Thông thường, người ta yêu thích sự sung túc giàu có, sự dễ dãi và một cuộc sống được mọi người biết đến tại những nơi phố phường thay vì một cảnh đời ẩn dật tại miền quê hẻo lánh. Nhưng với thánh Giuse, một người không sống cho mình nhưng tất cả cho Thiên Chúa. Ngài chỉ lo tìm kiếm và thi hành thánh ý của Thiên Chúa. Sự ẩn dật, nghèo khó, là nơi lý tưởng để ngài thể hiện tình yêu thầm lặng một cách sống động qua nếp sống thường nhật trong gia đình Thánh Gia tại làng quê Nazareth. Quả vậy, thánh Giuse biết rõ hơn ai hết Chúa Giêsu chính là Con Thiên Chúa, là một vị Thiên Chúa quyền năng. Ngài có quyền được hưởng một cuộc sống vương giả trong một cung điện sang trọng. Hay ít ra, ngài cũng có cuộc sống sung túc, với một nghề nghiệp được tôn trọng hơn là nghề thợ mộc. Tuy vậy, thánh Giuse vẫn chọn làm bác thợ mộc, cho dù phải vất vả và bị coi thường (x. Lc 13,55). Quả vậy, với nghề thợ mộc, gia đình Nazareth chỉ có thể đủ sống qua ngày như bao người nghèo khác đương thời nơi làng quê Nazareth chẳng có gì hay ho (x. Ga 1,46).

Dẫu biết rằng thánh Giuse là người chỉ tìm kiếm và làm những gì Thiên Chúa muốn, nhưng chúng ta có thể tự hỏi rằng điều gì, hay động lực nào đã giúp thánh nhân sống trong sự ẩn dật, nghèo khó và vất vả như vậy? Thiết tưởng câu trả lời chính xác nhất cho trường hợp này chính là tình yêu. Vì chỉ có tình yêu mới là chìa khóa giúp chúng ta hiểu được sự chọn lựa của thánh Giuse. Kinh nghiệm cho thấy rằng trong sự khó khăn, trong sự hy sinh mà tình yêu mới được tỏ lộ cách toàn vẹn và chân thực nhất. Chính cuộc sống khó khăn vất vả mà thánh Giuse biểu lộ tình yêu trọn vẹn với Thiên Chúa và với gia đình Thánh Gia. Có thể nói, vì tình yêu và chỉ có tình yêu mãnh liệt mới thúc đẩy thánh Giuse sống âm thầm trong trách nhiệm và phục vụ. Càng yêu nhiều người ta càng hy sinh nhiều, càng phục vụ nhiều. Thánh Gioan từng quả quyết rằng Thiên Chúa đã yêu thế gian quá đỗi nên đã ban tặng Con Một của Người cho thế gian (x. Ga 3,16). Đức Giêsu cũng đã thể hiện tình yêu ấy cách triệt để cho đến tận cùng trên thập giá (x. Ga 15,13). Trong Tông huấn Redemptoris Custos, thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II cũng cho thấy ý nghĩa lao động như là biểu hiện của tình yêu và phương tiện để nên thánh, và ngài cho thấy thánh Giuse như là mẫu gương cho những người làm môn đệ Chúa qua công việc thầm lặng thường nhật[3].

Kết luận

Thánh Augustinô nói: Hãy yêu rồi muốn làm gì thì làm”. Với quan điểm Kitô giáo, mọi hành động chỉ có giá trị thực sự, giá trị cứu độ khi mang trong đó dáng dấp của tình yêu. Tất cả mọi hoạt động không phát xuất từ tình yêu, từ con tim thì chẳng có ý nghĩa gì. Cho dẫu đó là những công việc vĩ đại lớn lao- dưới con mắt người đời- những điều lạ lùng, bí nhiệm hay cao siêu đến đâu đi nữa mà không có đức mến, không có tình yêu thì cũng chẳng mang lại lợi ích gì. Thánh Phaolô cũng đã cảnh báo các tín hữu Corinto rằng mọi công việc được thực hiện mà không có tình yêu thì chỉ là tiếng kêu ồn ào của thanh la phèng phèng inh ỏi mà thôi (x. 1Cr 13,1). Và tình yêu cũng là động lực để chúng ta dám sống, dám dấn thân và hy sinh cho Thiên Chúa và cho mọi người. Nói cách khác, sẽ không thể có một sự dấn thân đến cùng nếu không có tình yêu thúc đẩy. Có thể có nhiều lý do hay nhiều lý tưởng để người ta dấn thân và hy sinh như vì tổ quốc, vì gia đình. Nhưng phải nói rằng, để đi đến tận cùng thì chính tình yêu và chỉ có tình yêu là động lực duy nhất và mạnh mẽ, thúc đẩy người ta dám sống và chết cho nhau và cho Thiên Chúa như Chúa Kitô đã yêu và chết cho người mình yêu. Và cũng chính tình yêu này làm cho những hy sinh, những dấn thân của mỗi người chúng ta có ý nghĩa thực sự cho mình và cho người khác. 

Nhìn vào con người và cuộc đời của thánh Giuse, chúng ta thấy ngài đã được trở nên người công chính, một vị thánh lớn mà chúng ta thường gọi là “thánh cả Giuse”, không phải vì ngài đã nói hay, nói nhiều, ngay cả nói về tình yêu, nhưng vì ngài đã làm nhiều, làm trong âm thần và làm theo thánh ý Thiên Chúa. Hơn nữa, ngài chỉ làm những gì Thiên Chúa muốn ngài thi hành. Những gì thánh Giuse đã trải qua, từ những biến cố đặc biệt cũng như trong cuộc sống âm thầm thường nhật, tất cả đều được thể hiện bằng một thái độ tin tưởng và phó thác cách tuyệt đối vào Thiên Chúa, thể hiện một cách sống động qua hành động mau mắn và tuân phục trong âm thầm. Vậy điều gì đã giúp ngài có một nghị lực phi thường trước những biến cố lạ lùng, vượt quá sự hiểu biết, cũng như vượt quá trí tưởng tượng của nhân loại như thế? Câu trả lời đã rõ: đó là tình yêu. Một tình yêu thầm lặng nhưng mãnh liệt đã giúp ngài không ngã quỵ trước bất kỳ khó khăn nào. Vì chỉ có tình yêu chúng ta mới hiểu được tại sao ngài âm thầm chịu đựng đến lạ lùng như vậy. Cũng chỉ có tình yêu mới giúp ta giải thích được tại sao thánh Giuse sống thái độ vâng phục thánh ý Thiên Chúa một cách tuyệt đối và bền bỉ. Với sức mạnh của tình yêu, một sức mạnh mà đến như nước lũ cũng không thể dập tắt, sóng dữ cũng không thể nhấn chìm (x. Dc 8,7), thì người ta có thể làm được tất cả, ngay cả những điều vượt lên trên khả năng tự nhiên của con người. Với một tình yêu như vậy, không còn là con người tự nhiên chúng ta hành động nữa mà là Thiên Chúa, một Thiên Chúa tình yêu hành động trong chúng ta và chính ngài hành động thay cho chúng ta, như thánh Phaolo nói: “Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi” (Gl 2,20).

Chúng ta đang sống trong thời đại mà người ta thường gọi là thời đại chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa hưởng thụ, ở đó người ta ngại hy sinh và nhiều khi vô cảm với người khác. Như thế, con người và cuộc đời thầm lặng của thánh Giuse thật là mẫu gương sáng ngời cho con người trong thế giới hôm nay, nhất là các đan sĩ, những con người tìm kiếm và phụng sự một mình Thiên Chúa trong cô tịch và tĩnh lặng, những con người sống và thể hiện tình yêu với Thiên Chúa và nhân loại không phải bằng lời nói nhưng là bằng việc làm, không phải trong những nơi phố phường ồn ào náo nhiệt mà là trong âm thầm và cô tịch của bầu khí đan viện. Như thế, cũng giống như thánh Giuse, phải chăng đan sĩ cũng phải là những ngọn hải đăng cho con người và thế giới hôm nay trong việc phục vụ trong thầm lặng theo gương của thánh Cả Giuse?

[1] Bernard Martelet, Giuse Nazareth Người Tín Thác, p. 45.

[2] Bernard Martelet, Giuse Nazareth Người Tín Thác, p. 29.

[3] x. Giáo hoàng Gioan Phaolô II, Tông huấn Redemtoris Custos, 15.08.1989, số 22-24.

 

https://xitothienphuoc.net

Trong toàn bộ Tin Mừng, chúng ta thấy chỉ nhắc đến tên và một số đặc tính của thánh Giuse, chứ tuyệt nhiên không hề có chỗ nào ghi lại lời nói của ngài. Tuy nhiên, chỉ nhắc tới ngài thôi, thì cũng đủ để cho chúng ta thấy được vai trò ưu tuyển của ngài trong lịch sử cứu độ và nơi truyền thống của Giáo Hội.

Thật vậy, từ lâu, Giáo Hội đã tuyên xưng ngài là “đấng công chính”; “cha nuôi Con Đức Chúa Trời”; “bạn trăm năm của Đức Nữ Trinh”;“đấng bầu chữa cho cả Giáo Hội”;“mẫu gương sống động cho những người cha nơi các gia đình”.

Vậy do đâu và tại sao ngài lại được ân thưởng những đặc ân cao quý như vậy?

  1. Thánh Giuse là đấng công chính

Có lẽ xét về góc độ bề ngoài, thánh Giuse không có gì trổi vượt, thậm chí là một người bình thường như mọi người đàn ông nông dân khác thời bấy giờ. Nhưng xét về góc độ niềm tin, chúng ta dễ dàng nhận ra ngài là một anh hùng vì can đảm và tín trung.

Khi gọi ngài là “đấng công chính”, Giáo Hội muốn nói với con cái mình rằng: thánh Giuse là người thuộc về Thiên Chúa trọn vẹn, vì đã gắn bó và trung thành tuân giữ lời của Thiên Chúa cách tuyệt đối trong mọi hoàn cảnh.

Lần giở lại Kinh Thánh, chúng ta thấy việc Thiên Chúa sai sứ thần mộng báo cho thánh Giuse luôn mang tính đột ngột. Nhưng thái độ đáp ứng của thánh nhân cũng mau mắn đến độ đột ngột không kém.

Trong lần báo mộng đầu tiên, ý Thiên Chúa muốn thánh Giuse đón nhận Mẹ Maria về chung sống, để Con Thiên Chúa có một mái ấm gia đình bình thường như mọi gia đình khác trên trần gian. Nhưng đặt mình trong hoàn cảnh của thánh nhân lúc bấy giờ, thì việc đón nhận thánh ý Thiên Chúa thật không dễ, vì thai nhi Giêsu đang lớn dần trong cung lòng Mẹ Maria không phải của ngài, mà do quyền năng Chúa Thánh Thần. Xét theo góc độ con người thì việc đón nhận này không dễ. Tuy nhiên, thánh nhân đã không ngần ngại khi được giả thích, nên sẵn lòng đón Đức Mẹ về sống chung để cùng nhau xây dựng một gia đình thánh.

Tiếp theo là lần báo mộng thứ hai, ý Thiên Chúa mặc khải cho biết bạo chúa Hêrôđê đang tìm cách giết Con Trẻ, vì thế phải trốn sang Aicập ngay trong đêm; thánh nhân cũng mau mắn thi hành cách vội vã vì sự an toàn của tính mạng Con Thiên Chúa.

Lần cuối cùng, thánh nhân được báo mộng là đem Hài Nhi và Mẹ Người trở lại Nazareth, vì hòa bình đã lập lại; thánh Giuse không ngần ngại đem Hài Nhi và Mẹ Người trở lạ quê hương xứ sở của mình cách an toàn.

Thêm vào đó, sau khi đi lễ đền thờ, lúc trở về, ngài phát hiện được Hài Nhi Giêsu không về chung với mọi người thân thuộc, nên đã cùng với Đức Maria tức tốc trở lại đền thờ để tìm con.

Và, mặc dù không nói, nhưng chắc chắn rằng: suốt cuộc đời sống âm thầm nơi làng quê Nazareth... thánh Giuse luôn gắn bó mật thiết với Thiên Chúa qua mọi biến cố thăng trần của cuộc sống được thể hiện qua vai trò người chồng và người cha trong gia đình. Thật vậy, thánh nhân là người rất nhạy bén với thánh ý của Thiên Chúa và mau mắn thi hành. Chính sự cộng tác cách tuyệt đối này của thánh Giuse mà lịch sử cứu độ chuyển sang trang sử mới.

Bởi vậy, thánh Giuse xứng đáng được gọi là “đấng công chính” và là “cha nuôi Con Đức Chúa Trời”.

Khi trở thành dưỡng phụ của Đức Giêsu, lẽ đương nhiên, ngài trở thành “bạn trăm năm của Đức Maria”. Ngài là người chồng chung thủy và hết lòng yêu mến Mẹ Maria.

  1. Thánh Giuse là đấng bầu chữa cho Giáo Hội

Thánh Giuse còn được gọi là đấng bầu chữa cho cả Giáo Hội:

Thật thế, trải qua dòng lịch sử, ai trong chúng ta cũng có thể nhận ra sự bầu chữa của thánh nhân. Ngài luôn nâng đỡ những người nghèo khổ, kém may măn trong cuộc đời và nơi cuộc sống. Hình ảnh thánh Giuse hay làm phép lạ được truyền tai nhau khắp nơi. Đến nỗi người ta có thể nói rằng: ngài không quên ai chạy đến để cầu cứu ngài. Thánh nữ tiến sĩ Têrêsa Avila đã viết: “Tôi nhớ rõ, chưa bao giờ tôi cầu xin sự gì cùng thánh Cả Giuse mà không được như ý. Kỳ diệu thay, những ơn đặc biệt mà Thiên Chúa đã ban đầy tràn cho tôi, và đã giải thoát tôi khỏi mọi nguy hiểm phần hồn cũng như phần xác, do lời cầu bầu của Vị Thánh vinh phúc này”; thánh Têrêsa Avila viết tiếp: “Dường như Đấng Tối Cao ban ơn cho các thánh giúp chúng ta việc này, việc nọ, nhưng kinh nghiệm cho tôi biết thì Thánh Giuse vinh hiển có quyền năng rộng rãi giúp chúng ta trong mọi việc. Như thế là Chúa muốn cho chúng ta hiểu rằng, như xưa Chúa đã vâng phục Thánh Cả dưới thế, đã nhìn nhận Ngài với quyền làm Cha và làm Giám Quản, thì nay ở trên trời, Chúa cũng sẵn lòng chiều theo ý muốn của Ngài, mà nhận mọi lời Ngài cầu xin. Những người khác mà tôi khuyên chạy đến cùng Vị Bảo Hộ này, cũng nhận thấy điều ấy như tôi, do kinh nghiệm”.

Ý thức được tầm quan trọng của thánh nhân trong đời sống đức tin của Giáo Hội, và hết lòng tôn kính Ngài, vì thế, ngày 01.01.2013, Giáo Hội không ngần ngại khi đưa tên của thánh nhân vào trong Kinh Nguyện Thánh Thể với sắc lệnh số 215/11/L của Bộ Phụng Tự Thánh và Kỷ Luật Các Bí Tích. Vì thế, các Kinh Nguyện Thánh Thể đã nhắc tới danh xưng “Thánh Giuse, bạn trăm năm Đức Trinh Nữ” như một niềm tôn vinh và cũng như một lòng trông cậy.

Như vậy, thánh nhân thật xứng đáng trở nên Vị Bảo Trợ cho cả và Giáo Hội. Bên cạnh đó, ngài còn là mẫu gương các gia trưởng nơi các gia đình. Bởi vì, ngài là người chồng, người cha mẫu mực khôn ngoan.

  1. Bài học rút ra từ cuộc đời thánh Giuse

Mừng lễ thánh Giuse, Giáo Hội mời gọi mỗi chúng ta hãy hướng nhìn lên thánh nhân như một mẫu gương về lòng trung tín với Thiên Chúa, chung thủy với Đức Maria, luôn chu toàn trách vụ của người cha trong gia đình.

Thật vậy, thánh nhân là một con người thinh lặng, trầm tư, cầu nguyện... nên ngài dễ dàng nhận ra Thiên Ý và sẵn sàng mau mắn thi hành ý của Thiên Chúa trong cuộc đời. Sự thinh lặng của thánh nhân đã biến cuộc đời của ngài trở nên cuộc đời sống vì yêu. Yêu Chúa để thi hành mệnh lệnh. Yêu Mẹ Maria để sống chung thủy. Yêu mến Đức Giêsu để hết mực chăm lo. Yêu mến Giáo Hội để luôn bầu cử, trợ giúp... điều này thật đúng với tác giả Philippon, OP. đã nhận định về sự thinh lặng: “Ai yêu mến sự thinh lặng, sẽ được dẫn tới sự thinh lặng của mến yêu”.

Đối với Giáo Hội Việt Nam, giáo dân đất Việt có lòng yêu mến ngài đặc biệt. Nhiều gia đình, dòng tu, chủng viện, học viện đã tôn nhận ngài là Đấng Bảo Trợ. Nhiều nhà thờ lấy tước hiệu của ngài. Nhiều đền đài được dựng lên tỏ lòng tôn kính. Nhiều cụ ông, và anh em đã chọn ngài làm bổn mạng. Khi gặp bất trắc gì trong cuộc sống, chúng ta đều chạy đến với Ngài.

Tuy nhiên, nhiều khi chúng ta cũng chưa tôn kính ngài cho đủ, và cũng nhiều khi chúng ta chưa noi gương ngài thực sự. Vì thế, mừng lễ thánh Giuse, nhất là năm nay, là năm “Phúc Âm hóa đời sống gia đình”, chúng ta hãy xin thánh nhân bầu cử cho các gia đình chúng ta, luôn giữ được lòng yêu mến Chúa và Giáo Hội như ngài; mặt khác, khi Giáo Hội dành trọn tháng 3 để tôn kính thánh nhân, mà theo niên lịch phụng vụ thì thường rơi vào Mùa Chay, mà Mùa Chay là mùa sám hối, vì thế, cách này, cáh khác, Giáo Hội muốn mời gọi mỗi chúng ta hãy trở về với sự thinh lặng, để gắn bó với Chúa, nhận ra thánh ý Chúa trên cuộc đời và mau mắn thi hành mệnh lệnh của Chúa như thánh Giuse.

Lạy Thiên Chúa toàn năng, chúng con tạ ơn Chúa đã ban cho chúng con mẫu gương tuyệt vời là thánh Giuse. Xin Chúa đón nhận lời bầu cử của thánh nhân mà ban cho chúng con được can đảm, trung thành và yêu mến luật Chúa; đồng thời đem ra thi hành trong cuộc sống hiện tại. Amen.

Hôm thứ Ba 8 tháng 12, Lễ Trọng Kính Đức Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội, Đức Thánh Cha Phanxicô đã công bố Năm Thánh Giuse nhân kỷ niệm 150 năm ngày thánh nhân được tuyên phong là quan thầy của Giáo hội Hoàn vũ. Năm Thánh sẽ bắt đầu ngay từ ngày 8 tháng 12 năm 2020 và kết thúc vào ngày 8 tháng 12 năm 2021, theo một sắc lệnh đã được Đức Thánh Cha ủy quyền cho Tòa Ân Giải Tối Cao công bố.

Sắc lệnh cho biết Đức Phanxicô đã thiết lập Năm Thánh Giuse để “mọi thành phần tín hữu, theo gương thánh nhân, có thể củng cố đời sống đức tin của họ hàng ngày trong việc hoàn thành thánh ý Thiên Chúa”.

Sắc lệnh nói thêm rằng Đức Thánh Cha đã ban các ân xá đặc biệt để đánh dấu Năm Thánh này.

           Dưới đây là bản dịch toàn văn sang Việt Ngữ.

SẮC LỆNH

Các ơn xá đặc biệt được ban nhân dịp Năm Thánh Giuse, do Đức Thánh Cha Phanxicô công bố nhân kỷ niệm 150 năm tuyên bố Thánh Giuse là Bổn mạng của Giáo hội hoàn vũ.

Hôm nay đánh dấu kỷ niệm 150 năm Sắc lệnh Quemadmodum Deus (cũng như Thiên Chúa), trong đó Chân phước Piô IX, khi xúc động trước những hoàn cảnh nghiêm trọng và thê lương trong đó Giáo hội bị bao vây bởi sự thù địch thế gian, đã công bố Thánh Giuse là Quan Thầy Bảo Trợ cho Giáo Hội Công Giáo.

Để duy trì sự giao phó toàn thể Giáo hội dưới sự bảo trợ quyền năng của Dưỡng Phụ Chúa Giêsu, Đức Thánh Cha Phanxicô đã thiết lập rằng, một Năm đặc biệt về Thánh Giuse sẽ được cử hành kể từ ngày hôm nay, là ngày kỷ niệm việc công bố Sắc lệnh Quemadmodum Deus cũng là ngày Lễ Trọng Kính Đức Trinh Nữ Vô Nhiễm Nguyên Tội và là Hiền Thê của Thánh Giuse cực thanh cực tịnh; và sẽ kéo dài cho đến ngày 8 tháng 12 năm 2021. Trong năm này, mỗi tín hữu theo gương ngài có thể hàng ngày củng cố đời sống đức tin của mình ngõ hầu thực hiện trọn vẹn thánh ý Thiên Chúa.

Vì thế, tất cả các tín hữu sẽ có cơ hội tham dự qua những lời cầu nguyện và những việc lành phúc đức, để nhận được sự hộ phù của Thánh Giuse, là vị đứng đầu Gia đình Nazareth trên trời, cũng như được an ủi và xoa dịu khỏi những khổ não con người và xã hội đang đè nặng lên thế giới đương đại.

Lòng tôn sùng đối với Dưỡng Phụ Chúa Cứu Thế đã phát triển rộng rãi trong quá trình lịch sử của Giáo hội. Lòng sùng kính ấy dành cho ngài không chỉ là những hình thái thờ kính cao nhất chỉ sau Mẹ Thiên Chúa, và là Hiền Thê ngài; mà còn là lòng cậy trông xin ngài bảo trợ trong nhiều khía cạnh.

Huấn quyền của Giáo hội tiếp tục khám phá ra những chiều kích cũ và mới trong kho tàng Thánh Cả Giuse, như người chủ nhà trong Tin Mừng thánh Matthêu là người “lấy ra từ trong kho tàng của mình cả cái mới lẫn cái cũ” (Mt 13,52).

Các ơn xá được Tòa Ân Giải Tối Cao ban, thông qua Sắc lệnh này, được ban hành theo ý Đức Thánh Cha Phanxicô, và được ưu ái ban tặng trong Năm Thánh Giuse, sẽ giúp ích rất nhiều trong việc đạt được cách hoàn hảo mục đích đã định.

Ơn Toàn Xá được ban trong các điều kiện thông thường (xưng tội, rước lễ và cầu nguyện theo ý Đức Thánh Cha) cho các tín hữu từ bỏ mọi quyến luyến với tội lỗi, miễn là họ tham gia Năm Thánh Giuse vào các dịp và theo cách thức được chỉ định bởi Tòa Ân Giải Tối Cao này.

  1. Thánh Cả Giuse, một con người đích thực của đức tin, mời gọi chúng ta khám phá lại mối quan hệ hiếu thảo với Chúa Cha, làm mới lại lòng trung thành với lời cầu nguyện, lắng nghe và đáp lại bằng sự phân định sâu xa với thánh ý Thiên Chúa. Ơn Toàn Xá được ban cho những ai suy niệm trong ít nhất 30 phút Kinh Lạy Cha, hoặc tham gia vào một Khóa Tĩnh tâm tối thiểu một ngày bao gồm một bài suy niệm về Thánh Giuse.
  2. Tin Mừng gán cho Thánh Giuse biệt danh “Người Công Chính” (x Mt 1:19): ngài, là người giám hộ “những kín nhiệm thân mật nằm sâu trong trái tim và tâm hồn” [1], giữ gìn những bí ẩn của Thiên Chúa, và do đó là người bảo trợ lý tưởng của gia đình, thúc giục chúng ta tái khám phá giá trị của sự im lặng, thận trọng và trung thành trong việc hoàn thành nhiệm vụ của mình. Nhân đức công chính được thánh Giuse thực hành một cách gương mẫu là sự gắn bó hoàn toàn với lề luật Chúa, là luật của lòng xót thương, “bởi vì chính lòng thương xót của Thiên Chúa đã đưa công lý đích thực đến chỗ viên mãn” [2]. Vì vậy, những ai theo gương Thánh Cả Giuse, thực hiện một việc thương xót thể xác hoặc thiêng liêng, đều nhận được một ơn toàn xá.
  3. Khía cạnh chính trong ơn gọi của Thánh Giuse là làm người giám hộ của Thánh Gia Nazareth, phu quân của Đức Trinh Nữ Maria và là thân phụ hợp pháp của Chúa Giêsu. Để tất cả các gia đình Kitô được kích thích tái tạo cùng một bầu không khí hiệp thông mật thiết, tình yêu và cầu nguyện là những điều đã được sống trong Thánh Gia, Ơn Toàn Xá được ban cho những ai đọc kinh Mân Côi trong các gia đình và giữa các cặp đính hôn.
  4. Vào ngày 1 tháng 5 năm 1955, Tôi tớ Chúa Piô XII, đã thiết lập lễ Thánh Giuse Thợ, “với ước muốn rằng mọi người đều công nhận phẩm giá của công việc, và điều này sẽ truyền cảm hứng cho đời sống xã hội và luật lệ, dựa trên sự chia sẻ hợp lý giữa quyền lợi và nghĩa vụ” [3]. Vì vậy, Ơn Toàn Xá được ban cho bất cứ ai hàng ngày phó thác các hoạt động của mình cho sự bảo vệ của Thánh Giuse; và cho bất kỳ tín hữu nào cầu xin sự chuyển cầu của Người Thợ Thủ Công thành Nazareth xưa, để những người đang tìm công ăn việc làm có thể tìm được việc và công việc của mọi người được xứng đáng hơn.

 

  1. Cuộc lánh nạn của Thánh Gia đến Ai Cập “cho chúng ta thấy rằng Thiên Chúa hiện diện ở những nơi con người gặp nguy hiểm, nơi con người đau khổ, nơi con người phải chạy trốn, nơi con người phải trải qua sự từ khước và ruồng bỏ” [4]. Ơn Toàn Xá được ban cho những tín hữu nào đọc Kinh Cầu Thánh Giuse (đối với truyền thống Latinh), hoặc hát Thánh Ca kính Thánh Giuse, toàn bộ hoặc ít nhất một phần (đối với truyền thống Byzantine), hoặc đọc một số kinh nguyện với Thánh Giuse khác, phù hợp với truyền thống phụng vụ của mình, cầu xin cho Giáo hội đang bị bách hại cả bên trong và ngoài thế giới, và cầu xin cho tất cả các Kitô hữu đang chịu mọi hình thức bách hại.

Thánh Têrêxa Avila đã công nhận nơi Thánh Giuse là quan thầy bảo vệ chúng ta cho mọi hoàn cảnh của cuộc sống: “Dường như Thiên Chúa đã ban cho chúng ta các vị Thánh này Thánh khác để giúp đỡ chúng ta trong các nhu cầu khác nhau, nhưng tôi đã kinh nghiệm rằng Thánh Giuse vinh quang mở rộng sự bảo trợ của ngài trong tất cả các trường hợp” [ 5]. Gần đây hơn, Thánh Gioan Phaolô II nhắc lại rằng hình tượng Thánh Giuse có “một sự liên quan mới đối với Giáo hội trong thời đại chúng ta, và đối với thiên niên kỷ Kitô mới” [6].

Để tái khẳng định tính phổ quát của sự bảo trợ của Thánh Giuse đối với Giáo hội, ngoài những dịp đã nói ở trên, Tòa Ân Giải Tối Cao ban Ơn Toàn Xá cho các tín hữu đọc bất cứ kinh nguyện nào đã được phê chuẩn, hoặc thực hiện một việc đạo đức để tôn vinh Thánh Giuse, chẳng hạn đọc kinh “Ad te Beate Ioseph” [tiếng Việt gọi là Kinh Ông Thánh Giuse Bầu Cử][7], đặc biệt là vào các ngày 19 tháng Ba và 1 tháng Năm, vào Lễ Thánh Gia của Chúa Giêsu, Mẹ Maria và Thánh Giuse, vào Chúa Nhật của Thánh Giuse (theo truyền thống Byzantine), vào ngày 19 mỗi tháng và mỗi thứ Tư, là ngày dành riêng để kính Thánh Giuse theo truyền thống Latinh.

Trong bối cảnh sức khỏe khẩn cấp như hiện nay, việc ban ơn toàn xá đặc biệt được mở rộng cho người già, người bệnh, người hấp hối và tất cả những người vì những lý do chính đáng không thể ra khỏi nhà, miễn là họ có lòng từ bỏ mọi quyến luyến đối với tội lỗi và có ý định hoàn thành, càng sớm càng tốt, ba điều kiện thông thường, trong nhà riêng của họ hoặc nơi họ buộc phải cư trú, khi họ đọc kinh hay làm một hành động xuất phát từ lòng đạo đức để tôn kính Thánh Giuse, là vị thánh an ủi người bệnh và bảo trợ cho ơn chết lành, đồng thời dâng hiến với lòng tín thác nơi Chúa những đau đớn và khó khăn trong cuộc sống của họ.

Để giúp anh chị em giáo dân đạt được ơn thánh nhờ những điều kiện thuận lợi về mặt mục vụ, Tòa Ân Giải Tối Cao này tha thiết cầu xin rằng tất cả các linh mục được phú cho những năng quyền thích hợp, hãy trao ban chính mình với một tinh thần sẵn sàng và quảng đại cử hành Bí tích Thống hối cũng như trao Mình Thánh Chúa cho các bệnh nhân.

Sắc lệnh này có hiệu lực trong Năm Thánh Giuse, bất chấp tất cả quy định ngược lại.

Ban hành tại Rôma, từ trụ sở của Tòa Ân Giải Tối Cao, vào ngày 8 tháng 12 năm 2020.

+ Đức Hồng Y Mauro Piacenza

Chánh Tòa Ân Giải Tối Cao

Đức Ông Krzysztof Nykiel

Nhiếp chính

LỄ THÁNH GIUSE, BẠN TRĂM NĂM CỦA ĐỨC TRINH NỮ MARIA

Mt 1, 16.18-21.24a

 

Cả cuộc đời của thánh Giuse là sự im lặng. Ở đây, chúng ta nhận ra con người đích thực của thánh Giuse.Sự im lặng của Ngài là sự im lặng thánh.Một sự im lặng trầm lắng diễn tả sự tuân phục thánh ý Thiên Chúa của Ngài. Việc Tin Mừng không ghi lại một lời nói nào của thánh Giuse cũng cho hay rằng thánh Giuse là người công chính, luôn làm theo ý Chúa cho nên sự im lặng của Ngài là một lời tuyên xưng đức tin thật sâu xa: “ tất cả đời sống của Ngài thuộc về Thiên Chúa “.

 

Niềm tin của thánh Giuse thật sâu xa, Ngài đã trải qua một cuộc hành trình đức tin thật thăng trầm. Ngài luôn đối diện với những thử thách, những giông bão trong đời. Với một đức tin son sắt, thánh Giuse đã vượt thắng tất cả.Đọc lại Tin Mừng của Chúa Giêsu và các thánh tích của thánh cả Giuse, chúng ta hết sức cảm phục sự kiên nhẫn, lòng cản đảm, sự trung thành của Ngài đối với Thiên Chúa. Chúng ta thử lướt qua một số biến cố trong cuộc đời của thánh Giuse để thấy Ngài có đức tin sâu xa, vững vàng như thế nào.Việc Đức Trinh Nữ Maria thụ thai cũng đã làm cho thánh Giuse hoang mang, lo âu bởi lúc đó Ngài chưa được biết ý định của Thiên Chúa. Đức Giêsu phải sinh hạ trong hang bò lừa Bêlem khi hai ông bà Giuse và Maria không tìm được nơi trong các nhà trọ. Việc Mẹ Maria, Chúa Giêsu phải vất vưởng, chạy trốn Hêrôđê rày đây mai đó, và cuối cùng trở về Nazaret vật lộn với cuộc sống, tìm kiếm miếng cơm manh áo qua nghề thợ mộc vv…

Thánh Giuse đã vượt thắng nhờ niềm tin kiên vững vào Thiên Chúa. Chính niềm tin vào Thiên Chúa ngay trong những thử thách gian nan, ngay trong những nỗi ê chề thất vọng, đã khiến thánh Giuse trở nên con người công chính tuyệt vời. Thánh Giuse luôn bảo vệ hạnh phúc gia đình. Ngài sống âm thầm, thánh thiện, đạo đức bên cạnh Đức Mẹ. Ngài dưỡng nuôi, bảo vệ Chúa Giêsu suốt quãng đời trần thế của Chúa Giêsu. Tin Mừng Nhất Lãm và Tin Mừng của thánh Gioan đã không lại một lời nói của thánh Giuse. Nhưng cuộc đời trần thế của thánh Giuse là mẫu mực tuyệt vời cho mọi gia đình. Bởi vì, bên cạnh Đức Mẹ, bên cạnh Chúa Giêsu, thánh cả Giuse luôn làm cho gia đình Nazaret được hạnh phúc. Niềm vui, sự chân thành, lòng quảng đại của gia đình Nazaret là hạnh phúc tỏa sáng cho mọi gia đình công giáo. Thánh Giuse và gia đình của Ngài đã sống trên thuận dưới hòa, mọi người đều biết tôn trọng, yêu thương nhau.

Mừng lễ thánh cả Giuse hôm nay, chúng ta càng ngày càng hiểu rõ vai trò và tầm quan trọng của thánh Giuse trong việc thực thi ý Chúa, đặc biệt bảo vệ gia đình thánh : Đức Maria và Chúa Giêsu nơi trần gian này. Thánh Giuse cũng để lại mẫu gương khiêm nhường, âm thầm và vững tin. Thánh Giuse trở nên công chính vì Ngài đã sống trọn niềm tin nơi Thiên Chúa. Chính vì vâng phục thánh ý Thiên Chúa, thánh Giuse đã vững mạnh, tiến bước trong cuộc hành trình đức tin trần thế đầy cam go, thử thách, đầy sóng gió, ba đào vv…Nhờ đức tin vững chắc, thánh Giuse đã góp tay cộng tác với Thiên Chúa trong việc cứu độ nhân loại: Ngài đã chấp nhận làm bạn trăm năm của Đức Trinh Nữ và chấp nhận làm Cha nuôi của Chúa Giêsu trong cuộc sống gian trần…Thánh Giuse luôn âm thầm, im lặng trầm lắng, nhiệt thành, quảng đại là những đức tính nổi bật của Ngài.

Mừng lễ thánh cả Giuse hôm nay, chúng ta hãy ca tụng tình thương bao la của Thiên Chúa khi tuyển  chọn thánh Giuse làm bạn trăm năm của Đức Trinh Nữ Maria, chúng ta hãy ghi nhớ một số sự kiện lớn lao về thánh Giuse:

-Đức Hồng Y Patricio Daily là người khởi xướng việc sùng kính thánh cả Giuse trong toàn thể Giáo Hội…

-Thánh Têrêsa Avila cổ động lòng sùng kính thánh cả Giuse và quả quyết:” Chưa bao giờ tôi kêu cầu Thánh Cả Giuse mà Ngài không giúp đỡ tôi. Nhất là việc nhờ Ngài tu sửa lại Dòng Kín “.

-Đức thánh Cha Pio 9 đặt Thánh cả Giuse làm Đấng Bảo Trợ Giáo Hội theo đề nghị của các nghị phụ Công đồng Vaticano 1 và truyền mừng lễ thánh cả Giuse vào ngày 19.3 hằng năm.

-Đức Lêô 13 ra thông điệp về lòng tôn kính thánh cả Giuse và truyền lấy tháng 3 hằng năm tôn kính Ngài.

-Đức Piô 11 tuyên xưng thánh cả Giuse là mẫu gương đời lao công. Đức thánh Cha Piô 12 đặt thánh cả Giuse làm chủ các gia đình.

Càng ngày Giáo Hội càng nhận ra vai trò, sứ mạng quan trọng của thánh cả Giuse trong lịch sử cứu độ. Giáo Hội truyền đọc trong các Kinh Nguyện Thánh Thế tên thánh cả Giuse là bạn trăm năm của Đức Trinh Nữ Maria.

Lạy thánh cả Giuse, xin cầu thay nguyện giúp cho chúng con trước ngai tòa Chúa để chúng con luôn noi gương bắt chước thánh cả im lặng trầm lắng, vâng phục thánh ý Thiên Chúa và nhiệt thành hoàn tất sứ mạng Chúa trao phó.Xin cho chúng con được trở nên công chính như thánh Giuse.

Lạy thánh cả Giuse, xin cầu bầu cho mọi gia đình đặc biệt trong năm Tân Phúc Âm Đời Sống Gia Đình mà thư chung Hội Đồng Giám Mục Việt Nam đã đề ra, để mọi gia đình công giáo luôn sống hạnh phúc, đạo đức, thánh thiện và luôn biết tuân theo thánh ý Thiên Chúa. Amen.